Liệu pháp điều trị bổ sung mới cho bệnh động mạch vành
3.8 (75%) 4 vote[s]

Liệu pháp điều trị bổ sung mới cho bệnh động mạch vành

xarelto

Điểm tin nghiên cứu mới được công bố: Liệu pháp điều trị bổ sung mới cho bệnh động mạch vành.

Rivaroxaban và icosapentethylare là những liệu pháp bổ sung tiềm năng.

Một số liệu pháp điều trị bổ sung mới cho bệnh động mạch vành (CAD) đã được nghiên cứu hoặc phê duyệt vào năm 2018.

xarelto

Gần dây FDA đã chấp thuận ngưỡng liều mới của rivarobaxan (Xarelto) là 2,5 mg, dựa trên một thử nghiệm quy mô lớn trên 27000 bệnh nhân CAD có triệu chứng hoặc có tái tưới máu mạch vành hoặc có triệu chứng bệnh lí mạch máu ngoại biên. Những bệnh nhân CAD dưới 65 tuổi phải có xơ vữa động mạch trên một vị trí mạch khác hoặc có ít nhất 2 yếu tố nguy cơ. Các tiêu chuẩn loại trừ bao gồm: có nguy cơ chảy máu cao, các bệnh mắc kèm nghiêm trọng, tốc độ lọc cầu thận <15 mL/phút, suy tim nặng và cần điều trị kháng tiểu cầu kép. Bệnh nhân được phân nhóm ngẫu nhiên điều trị bằng rivarobaxan (2,5 mg 2 lần/ngày) kết hợp aspirin (100 mg/ngày), rivarobaxan đơn độc (5mg 2 lần/ngày) hoặc aspirin đơn độc. Trong 2 năm điều trị, tỉ lệ mắc các biến cố tim mạch bất lợi của nhóm kết hợp rivarobaxan và aspirin thấp hơn 1,3% so với nhóm điều trị aspirin đơn độc, nhưng tỉ lệ chảy máu lại cao hơn 1,2% (NEJM JW Gen Med ngày 1/10/2017 và N Engl J Med ngày 5/10/2017; 377:1319).

Ở một thử nghiệm khác, bệnh nhân mắc CAD hoặc mắc đái tháo đường kèm các yếu tố nguy cơ khác có nồng độ triglycerid cao dù đã điều trị bằng statin được phân nhóm ngẫu nhiên để sử dụng icosapent ethyl (Vascepa, một ethyl ester của acid béo ω-3 acid eicosaentaenoic) hoặc giả dược là dầu khoáng. Sau trung bình 4,9 năm theo dõi, chỉ tiêu đánh giá gộp phụ bao gồm tỉ lệ tử vong liên quan đến tim mạch, nhồi máu cơ tim không gây tử vong hoặc đột quỵ của nhóm dùng icosapent ethyl hơi thấp hơn nhóm giả dược (17% so với 22%). Tỉ lệ rung nhĩ và cuồng động nhĩ ở nhóm icosapent ethyl cao hơn nhóm giả dược (3.1 % so với 2,1 %), nhóm icosapent ethyl cũng có nhiều trường hợp chảy máu hơn. Sử dụng icosapent ethyl so với giả dược cho chỉ tiêu đánh giá gộp chính (bao gồm gồm tỉ lệ tử vong liên quan đến tim mạch, nhồi máu cơ tim không gây tử vong, đột quỵ không gây tử vong, tái tưới máu mạch vành hoặc đau ngực không ổn định) thấp hơn đáng kể trong quần thể bệnh nhân dự phòng thứ phát (khoảng 71% bệnh nhân) nhưng không thấp hơn trong quần thể bệnh nhân dự phòng nguyên phát (NEJM JW Gen Med Jan 1 2019 và N Engl J Med Nov 10);

Cả rivaroxaban và icosapent ethyl đều là liệu pháp bổ sung tiềm năng cho bệnh nhân CAD. Trong nghiên cứu COMPASS, lợi ích của các liệu pháp chỉ nhỉnh hơn so với các nguy cơ, các bác sĩ có lẽ chỉ nên sử dụng liệu pháp kết hợp cho bệnh nhân đạt tiêu chuẩn lựa chọn của nghiên cứu.

Mặc dù phân tích dưới nhóm trong thử nghiệm icosapent ethyl không phải thử nghiệm ngẫu nhiên, icosapent ethyl cũng chỉ nên sử dụng cho bệnh nhân đã mắc CAD, do thuốc không đem lại lợi ích dự phòng nguyên phát trong thử nghiệm này cũng như trong các thử nghiệm về dự phòng nguyên phát bằng các acid ω-3 gần đây.

Nguồn: Tác giả Kirsten E. Fleischmann, MD, MPH, FACC

https://www.jwatch.org/na48078/2018/12/27/nejm-journal-watch-general-medicine-year-review-2018

Người tổng hợp: Nguyễn Thị Thu Hà – Đoàn Phương Thảo

 

 

 

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

08.5354.9696